Gợi ý trả lời phần Nhận xét Tập làm văn: Cốt truyện
Câu 1. Ghi lại những sự việc chính trong truyện Dế Mèn bênh vực kẻ yếu.
Câu 2. Chuỗi sự việc trên được gọi là cốt truyện. Vậy theo em, cốt truyện là gì?
Câu 3. Cốt truyện gồm những phần nào? Nêu tác dụng của từng phần.
Trả lời:
Câu 1. Những sự việc chính trong truyện Dế Mèn bênh vực kẻ yếu.
a) Dế Mèn gặp Nhà Trò đang gục đầu khóc bên tảng đá.
b) Dế Mèn gạn hỏi. Nhà Trò kể lại tình cảnh khốn khó bị bọn nhện ức hiếp và đòi ăn thịt.
c) Dế Mèn phẫn nộ cùng Nhà Trò đi đến chỗ mai phục của bọn nhện.
d) Gặp bọn nhện, Dế Mèn ra oai, lên án sự nhẫn tâm của chúng, bắt chúng phá vòng vây hãm Nhà Trò.
đ) Bọn nhện sợ hãi phải nghe theo. Nhà Trò được tự do.
Câu 2. Chuỗi sự việc trên được gọi là cốt truyện. Vậy, cốt truyện là chuỗi sự việc làm nòng cốt cho diễn biến của truyện.
Câu 3. Cốt truyện thường gồm 3 phần:
+ Mở đầu: Sự việc khơi nguồn cho các sự việc khác (trong truyện Dế Mèn bênh vực kẻ yếu là sự việc Dế Mèn bắt gặp Nhà Trò đang ngồi khóc bên tảng đá).
+ Diễn biến: Các sự việc chính kế tiếp theo nhau nói lên tính cách nhân vật, ý nghĩa của truyện (các sự việc b, c, d).
+ Kết thúc: Kết quả của các sự việc ở phần mở đầu và phần diễn biến (sự việc đ).
Gợi ý trả lời phần Luyện tập Tập làm văn: Cốt truyện
Câu 1 (trang 43 sgk Tiếng Việt 4): Truyện cổ tích “Cây khế” bao gồm các sự việc chính sau đây (SGK TV4, tập 1 trang 43). Hãy sắp xếp các sự việc trên thành cốt truyện:
a) Chim chở người em ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu có
b) Cha mẹ chết, người anh chia gia tài, người em chỉ được cây khế.
c) Người anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế, em bằng lòng
d) Cây khế có quả, chim đến ăn, người em phàn nàn và chim trả ơn bằng vàng
e) Chim lại đến ăn, mọi chuyện diễn ra như cũ, nhưng người anh may túi quá to và lấy quá nhiều vàng
g) Người anh bị rơi xuống biển và chết
Trả lời:
Sắp xếp các sự việc trên thành cốt truyện như sau:
1. b) Cha mẹ chết, người anh chia gia tài, người em chỉ được cây khế.
2. d) Cây khế có quả, chim đến ăn, người em phàn nàn và chim trả ơn bằng vàng
3. a) Chim chở người em ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu có
4. c) Người anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế, em bằng lòng
5. e) Chim lại đến ăn, mọi chuyện diễn ra như cũ, nhưng người anh may túi quá to và lấy quá nhiều vàng
6. g) Người anh bị rơi xuống biển và chết
Câu 2 (trang 43 sgk Tiếng Việt 4): Dựa vào cốt truyện trên kể lại chuyện cây khế
Trả lời:
Ngày xưa ở một gia đình nọ có hai anh em, sau khi bố mẹ qua đời người anh bèn chia gia tài. Cậy thế mình là anh cả anh ta chiếm hết mọi tài sản bố mẹ để lại cho người em một mảnh vườn nhỏ và cây khế ở góc vườn.
Đến mùa, khế ra hoa kết trái nhiều vô kể. Bỗng đâu có một con chim đại bàng bay đến ăn hết trái này đến trái khác. Người em buồn rầu nói với chim “Chim ăn hết khế, ta lấy gì sinh sống? Đại bàng liền nói: “Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang đem đi mà đựng”
Nghe lời chim dặn, người em may một cái túi ba gang. Hôm sau đại bàng bay đến chở người em ra đảo lấy vàng. Người em lấy đầy một túi ba gang rồi cưỡi lên lưng chim trở về. Từ đó người em trở nên giàu có.
Người anh biết chuyện đòi đổi toàn bộ gia tài của mình lấy cây khế, người em đồng ý. Ngày ngày cả hai vợ chồng túc trực dưới cây khế. Đại bàng lại đến. Người anh giả vờ kêu nghèo kể khổ và cũng được đại bàng nói những lời từng nói với người em trước đây. Hắn ta về nhà, bàn với vợ may một cái túi mười hai gang. Chim lại đến chở hắn ra đảo. Hắn hoa mắt trước đảo vàng, cố nhét thật đầy vàng bạc châu báu vào cái túi. Chưa hết hắn còn nhét vào trong người những chỗ nào còn nhét được. Rồi khệ nệ kéo túi vàng lên lưng chim
Do túi vàng quá nặng, đại bàng phải ba lần bảy lượt mới nhấc mình lên khỏi mặt đất. Khi bay qua biển rộng, bần thần một cơn gió thổi tới, đại bàng nghiêng cánh hất túi vàng và người anh xuống biển. Kết thúc số phận của một kẻ tham lam.
Luyện từ và câu lớp 4: Luyện tập về từ ghép và từ láy
Soạn bài Luyện từ và câu lớp 4: Luyện tập về từ ghép và từ láy là lời giải phần Luyện từ và câu Tiếng Việt 4 trang 43, 44 được Gia Sư Toàn Cầu biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 giúp các em học sinh ôn tập, củng cố các dạng bài tập từ ghép, từ láy.
Tập làm văn lớp 4: Cốt truyện
Câu 1 (trang 43 sgk Tiếng Việt 4): So sánh hai từ ghép:
– Bánh trái (chỉ chung các loại bánh)
– Bánh rán (chỉ loại bánh nặn bằng bột gạo nếp thường có nhân rán chín giòn)
a) Từ ghép nào có nghĩa tổng hợp
b) Từ ghép nào có nghĩa phân loại
Trả lời:
a) “Bánh trái” là từ ghép có nghĩa tổng hợp. Vì nó dùng để chỉ chung cho tất cả các loại bánh trái
b) “Bánh rán” là từ ghép có nghĩa phân loại. Vì nó chỉ một loại bánh cụ thể trong tất cả các loại “bánh trái” nhằm phân biêt, với các loại bánh khác như “bánh đúc”, “bánh trôi nước “v.v
Câu 2 (trang 44 sgk Tiếng Việt 4): Viết các từ ghép được in đậm trong những câu đã cho (SGK TV4, tập 1, trang 44) vào trong bảng phân loại.
a) Từ ngoài vọng vào tiếng chuông xe điện lẫn tiếng chuông xe đạp lanh canh không ngớt, tiếng còi tàu hỏa thét lên, tiếng bánh xe đạp trên đường ray và tiếng máy bay gầm rít trên bầu trời.
b) Dưới ô cửa máy bay hiện ra ruộng đồng, làng xóm, núi non. Những gò đống, bãi bờ với những mảng màu xanh, nâu, vàng, trắng và nhiều hình dạng khác nhau gợi những bức tranh giàu màu sắc.
Từ ghép có nghĩa tổng hợp | Ruộng đồng |
Từ ghép có nghĩa phân loại | Đường ray |
Trả lời:
Đọc các đoạn văn đã cho rồi xem xét các từ in đậm, từ nào dùng để chi bao quát chung một loại sự vật, từ nào dùng để chỉ một sự vật cụ thể, em đưa các từ đó vào nội dung của bảng phân loại.
Từ ghép có nghĩa tổng hợp | Ruộng đồng, làng xóm, núi non gò đống, bờ bãi, hình dạng, màu sắc |
Từ ghép có nghĩa phân loại | Xe điện, xe đạp, tàu hỏa, đường ray, máy bay |
Câu 3 (trang 44 sgk Tiếng Việt 4): Xếp các từ láy trong đoạn văn sau vào nhóm thích hợp (SGK TV4, tập 1 trang 44)
Cây nhút nhát
Gió rào rào nổi lên. Có một tiếng động gì lạ lắm. Những chiếc lá khô lạt xạt lướt trên cỏ. Cây xấu hổ co rúm mình lại. Nó bỗng thấy xung quanh lao xao. He hé mắt nhìn: không có gì lạ cả. Lúc bấy giờ nó mới mở bừng những con mắt lá và quả nhiên không có gì lạ thật.
Theo TRẦN HOÀI DƯƠNG
a) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm đầu.
b) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần.
c) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần.
Trả lời:
a) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm đầu: Nhút nhát
b) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần: Lao xao, lạt xạt
c) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần: Rào rào, he hé
Tập làm văn lớp 4: Luyện tập xây dựng cốt truyện
Soạn bài Tập làm văn lớp 4: Luyện tập xây dựng cốt truyệnlà lời giải phần Tập làm văn SGK Tiếng Việt 4 trang 45 được Gia Sư Toàn Cầu biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 giúp các em học sinh ôn tập tóm tắt xây dựng cốt truyện và hoàn thành bài văn kể chuyện lớp 4.
Luyện từ và câu lớp 4: Luyện tập về từ ghép và từ láy
Câu 1 (trang 45 sgk Tiếng Việt 4): Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện có ba nhân vật: bà me ốm, người con của ba mẹ bằng tuổi em và một bà tiên.
Trả lời:
1. Câu chuyện về Sự hiếu thảo
Tưởng tượng trả lời các câu hỏi:
– Người mẹ ốm như thế nào? (ốm thập tử nhất sinh)
– Người con chăm sóc mẹ ra sao? (nhà nghèo nhưng tận tụy đêm ngày chăm lo săn sóc chu đáo).
– Để chữa khỏi bệnh cho mẹ. người con gặp khó khăn gì? (Phải tìm ra thứ thuốc quý hiếm tận chốn núi cao, rừng thẳm).
– Người con vượt qua khó khăn đó như thế nào? (quyết tâm lặn lội, không ngại thú dữ rắn rết tìm cho bằng được).
– Bà tiên đã giúp hai mẹ con ra sao? (Bà tiên xúc động trước lòng hiếu thảo đó nên đã hiện ra giúp đỡ).
2. Câu chuyện về tính trung thực
Tưởng tượng và trả lời các câu hỏi:
– Người mẹ ốm như thế nào? (ốm thập tử nhất sinh)
– Người con chăm sóc mẹ ra sao? (nhà nghèo nhưng tận tụy đêm ngày chăm lo săn sóc chu đáo).
– Để chữa khỏi bệnh cho mẹ, người con gặp khó khăn gì? (phải tìm ra thứ thuốc quý hiếm tận chốn núi cao, rừng thẳm).
– Bà tiên cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của người con nhưng muốn thử thách lòng trung thực của người con như thế nào? (Bà tiên giả vờ đánh rơi túi vàng bạc châu báu để thử lòng người con. Người con không gian tham nên được bà tiên giúp đỡ).
Học sinh tự kể câu chuyện theo sự tưởng tượng của mình như đã gợi ý.
Bài tham khảo
Thuở xưa, không rõ vào thời nào có một gia đình chỉ có hai mẹ con. Người mẹ đã ngoài năm mươi, còn cô con gái chỉ độ chín, mười tuổi. Sức già con dại, họ không làm được gì nhiều, chỉ đù đắp qua ngày. Tuy nghèo nhưng họ sống phúc đức, nên được bà con lối xóm thương yêu quý mến.
Một ngày nọ, sau buổi đi làm đồng về, người mẹ nhuốm bệnh nằm liệt giường. Bà con lối xóm đến thăm nom giúp đỡ tiền bạc, thuốc thang chạy chữa cho bà nhưng bệnh ngày nặng thêm. Hàng ngày cô bé tức trực bên giường bệnh không rời một bước. Nhiều lúc cô bé phải nhịn ăn nhường phần cho mẹ. Tuy vất vả thiếu thốn đủ đường nhưng cô bé không bao giờ than vãn một điều gì. Rồi một hôm do mệt quá, cô bé thiếp đi lúc nào không biết. Trong giấc chiêm bao, cô bé nghe một tiếng nói thì thào bên tai:
– Cháu muốn cứu mẹ thì hãy vượt qua chín ngọn đồi ở phía tây. Đến đó có một ngôi nhà bên vệ đường. Cháu cứ vào nhà gõ cửa, sẽ có người giúp cháu chữa khỏi bệnh cho mẹ.
Cô bé tỉnh dậy, mong trời mau sáng để thực hiện lời dặn của ai đó trong giấc chiêm bao. Trời vửa hửng sáng, cô bé vội chạy sang nhà hàng xóm nhờ họ trông hộ mẹ cho mình rồi tạm biệt mẹ già ra đi. Sau bảy ngày trèo đèo lội suối, vượt qua bao nhiêu khó khăn cô bé đã đến được nhà bên vệ đường. Vừa mới gõ cửa thì một bà lão tóc trắng như cước, đôi mắt hiền từ phúc hậu, tay chống gậy trúc bước ra, nói:
– Ta đợi cháu ở đây đã mấy ngày rồi. Ta rất quý tấm lòng hiếu thảo của cháu. Đây là một lọ thuốc thần, cháu hãy cầm lấy mang về chữa bệnh cho mẹ. Chảu chỉ cần cho mẹ uống một viên thôi, mẹ cháu sẽ khỏi bệnh. Số còn lại tùy ý cháu sử dụng
– Bà ơi! Cháu cảm ơn bà nhiều lắm – Cô bé nói:
– Thôi, cháu hay mau trở về. Mẹ cháu và dân làng đang mong đấy.
– Bà lão nói xong thì biến mất. Cô bé vội vã lên đường trở về nhà. Sau khi chữa khỏi bệnh cho mẹ, cô bé còn dùng số thuốc còn lại, cứu sống không biết bao nhiêu mạng người Từ đó, cuộc sống của hai mẹ con bà thật đầm ấm, hạnh phúc. Họ sống trong tình yêu thương đùm bọc của dân làng.